NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMASAMBUDDHASA

Chánh Pháp (Phật Pháp)

Chánh Pháp mà đức Thế Tôn đã khéo thuyết giảng"thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".

Chánh Pháp ấy là Bốn Thánh Đế và sự tu tập chân chánh là sự thực hành con đường Thánh Đạo Tám Ngành (còn được gọi là: Bát Chánh Đạo, hay Bát Thánh Đạo): Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định; y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, y chỉ từ bỏ; là con đường duy nhất đưa đến đoạn tận Tham Sân Si, chấm dứt khổ đau, chấm dứt sanh tử luân hồi, chứng ngộ Niết Bàn.

Chúng ta hãy thường xuyên ôn tập và ghi nhớ lời dạy sau đây của đức Phật để tự nhắc mình luôn tinh tấn tu tập Thánh Đạo Tám Ngành:

  • "Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc".
  • "Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt Bốn Thánh Đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
  • "Này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ".
  • Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập".
  • Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt".
  • Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt"".
  • "Này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ, cần phải liễu tri.
  • Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận.
  • Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ.
  • Thánh đế về Con đường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập".

(trích Kinh Tương Ưng Bộ)

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

Popular Posts

Sunday, August 10, 2014

Kinh Một Phần & Kinh Hoàn Toàn (Khả năng tu tập Bốn Niệm Xứ)

6.   Khả năng tu tập Bốn Niệm Xứ


(47. 3. 6) Kinh Một Phần: Padesasuttaṃ (1204 - Kinh Tương Ưng)

1. Một thời Tôn-giả Sāriputta, Tôn-giả Mahāmoggallāna và Tôn-giả Anuruddha trú ở Sāketa, tại rừng Kaṇṭakī.
2. Rồi Tôn-giả Sāriputta và Tôn-giả Mahāmoggallāna, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn-giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn-giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tôn-giả Sāriputta thưa với Tôn-giả Anuruddha:
- "Hữu học, hữu học", thưa Hiền-giả Anuruddha, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Hiền-giả Anuruddha, là hữu học?
- Do tu tập một phần Bốn niệm xứ, thưa Hiền-giả, là bậc hữu học. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền-giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
5. Do tu tập một phần Bốn niệm xứ này, thưa Hiền-giả, là bậc hữu học.

---------------------------------------------------------------------------------

(47. 3. 7) Kinh Hoàn Toàn: Samattasuttaṃ (1205 - Kinh Tương Ưng)

1. Một thời Tôn-giả Sāriputta, Tôn-giả Mahāmoggallāna và Tôn-giả Anuruddha trú ở Sāketa, tại rừng Kaṇṭakī.
2. Rồi Tôn-giả Sāriputta và Tôn-giả Mahāmoggallāna, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn-giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn-giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tôn-giả Sāriputta thưa với Tôn-giả Anuruddha:
- "Vô học, vô học", thưa Hiền-giả Anuruddha, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Hiền-giả Anuruddha, là bậc vô học?
- Do tu tập hoàn toàn Bốn niệm xứ, thưa Hiền-giả, là bậc vô học. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền-giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

5. Do tu tập hoàn toàn Bốn niệm xứ này, thưa Hiền-giả, là bậc vô học.

Kinh Tập Khởi (sự tập khởi và đoạn diệt của Bốn Niệm Xứ)

5.   Thế nào là sự tập khởi và đoạn diệt của Bốn Niệm Xứ? (món ăn-thân, xúc-thọ, danh sắc-tâm, tác ý-pháp)


(47. 5. 2) Kinh Tập Khởi: Samudayasuttaṃ (1220 - Kinh Tương Ưng)

1. Tại Sāvatthī.
2. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các ông về sự tập khởi và sự chấm dứt Bốn niệm xứ. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tập khởi của thân? Sự tập khởi của món ăn là sự tập khởi của thân. Sự đoạn diệt các món ăn là sự đoạn diệt của thân.
4. Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Sự đoạn diệt của xúc là sự chấm dứt của thọ.
5. Sự tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của tâm. Sự đoạn diệt của danh sắc là sự chấm dứt của tâm.
6. Sự tập khởi của tác ý là sự tập khởi của các pháp. Sự đoạn diệt của tác ý là sự chấm dứt của các pháp.

Kinh Người Ðầu Bếp (Cần biết về Tướng Tâm)

4.  Ba điều quan trọng cần lưu ý khi tu  tập Bốn Niệm Xứ


4.3  Cần biết về Tướng Tâm (người khéo và không khéo trong việc tu tập Bốn Niệm Xứ)

(47. 1. 8) Kinh Người Ðầu Bếp: Sūdasuttaṃ (1186 - Kinh Tương Ưng)

1. Nhân duyên ở Sāvatthī.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
I
- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho vua hay cho các đại thần của vua, như súp chua (ambilaggehipi), súp đắng (tittakaggehipi), súp cay (kaṭukaggehipi), súp ngọt (madhuraggehipi), chất kiềm (khārikehipi), không phải chất kiềm (akhārikehipi), chất mặn (loṇikehipi), không phải chất mặn (aloṇikehipi).
4. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình: "Hôm nay, chủ ta thích món súp này", hay: "Món súp này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chua này", hay: "Món súp chua này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chua này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chua này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp đắng này", hay: "Món súp đắng này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp đắng này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp đắng này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp cay này", hay: "Món súp cay này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp cay này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp cay này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp ngọt này", hay: "Món súp ngọt này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp ngọt này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp ngọt này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chất kiềm này", hay: "Món súp chất kiềm này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chất kiềm này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chất kiềm này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp không phải chất kiềm này", hay: "Món súp không phải chất kiềm này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp không phải chất kiềm này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp không phải chất kiềm này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chất mặn này", hay: "Món súp chất mặn này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chất mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chất mặn này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp không phải chất mặn này", hay: "Món súp không phải chất mặn này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp không phải chất mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp không phải chất mặn này".
5. Và này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nhận được đồ mặc, không nhận được lương bổng, không nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; dầu vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận, vị ấy không học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; dầu vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận, vị ấy không học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; dầu vị ấy trú, quán tâm trên tâm, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận, vị ấy không học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận, vị ấy không học được tướng ấy.
7. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của mình.
II
8. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo, được giao lo liệu các thứ súp sai khác cho các vua hay cho các đại thần của vua, như súp chua, súp đắng, súp cay, súp ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm, chất mặn hay không phải chất mặn.
9. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm đưc sở thích về việc ăn uống của người chủ mình: "Hôm nay, chủ ta thích món súp này", hay: "Món súp này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chua này", hay: "Món súp chua này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chua này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chua này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp đắng này", hay: "Món súp đắng này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp đắng này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp đắng này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp cay này", hay: "Món súp cay này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp cay này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp cay này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp ngọt này", hay: "Món súp ngọt này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp ngọt này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp ngọt này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chất kiềm này", hay: "Món súp chất kiềm này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chất kiềm này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chất kiềm này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp không phải chất kiềm này", hay: "Món súp không phải chất kiềm này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp không phải chất kiềm này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp không phải chất kiềm này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp chất mặn này", hay: "Món súp chất mặn này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp chất mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp chất mặn này". "Hôm nay, chủ ta thích món súp không phải chất mặn này", hay: "Món súp không phải chất mặn này chủ ta lấy ăn", hay: "Món súp không phải chất mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món súp không phải chất mặn này".
10. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nhận được đồ mặc, nhận được lương bổng, nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
11. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; do vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận, vị ấy học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; do vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận, vị ấy học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận, vị ấy học được tướng ấy.
Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận, vị ấy học được tướng ấy.
12. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được Chánh niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.

Kinh Trú Xứ Tỷ-kheo-ni (tu tập có hướng tâm và tu tập không có hướng tâm)

4.  Ba điều quan trọng cần lưu ý khi tu  tập Bốn Niệm Xứ


4.2     Cần biết tu tập về Hướng Tâm và tu tập Không Hướng Tâm

47. 1. 10) Kinh Trú Xứ Tỷ-kheo-ni: Bhikkhunūpassayasuttaṃ (1188 - Kinh Tương Ưng)

1. Tại Sāvatthī.
2. Rồi Tôn-giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
3. Rồi một số đông Tỷ-kheo-ni đến Tôn-giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn-giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với Tôn-giả Ānanda:
- Ở đây, bạch Thượng Tọa Ānanda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên Bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết (sampajānanti) quảng đại, trước sau thù thắng.
- Như vậy là phải, này các đại tỷ! Như vậy là phải, này các đại tỷ! Này các đại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong Bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng.
4. Rồi Tôn-giả Ānanda với bài pháp thoại, sau khi tuyên thuyết cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
5. Rồi Tôn-giả Ānanda sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn-giả Ānanda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đến, con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông Tỷ-kheo-ni đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với con: "Ở đây, bạch Thượng Tọa Ānanda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên Bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng". Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các Tỷ-kheo-ni ấy: "Như vậy là phải, này các đại tỷ! Như vậy là phải, này các đại tỷ! này các đại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong Bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng".
6. - Như vậy là phải, này Ānanda! Như vậy là phải, này Ānanda! Này Ānanda, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng. Thế nào là bốn?
7. Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thân trên thân, hoặc thân sở duyên (kāyārammaṇo) khởi lên, hoặc thân nhiệt não (kāyasmiṃ pariḷāho), hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại (bahiddhā vā cittaṃ vikkhipati); do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín (pasādanīye nimitte). Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan (pāmojjaṃ: thắng hỷ) sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (paṭisaṃharāmī) (khỏi đối tượng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm Chánh niệm, ta được an lạc".
8. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo sống, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, hoặc thọ sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm Chánh niệm, ta được an lạc".
9. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo sống, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán tâm trên tâm, hoặc tâm sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm Chánh niệm, ta được an lạc".
10. Vị ấy sống, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, hoặc pháp sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tướng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm Chánh niệm, ta được an lạc".
11. Như vậy, này Ānanda, là sự tu tập về hướng tâm.
12. Và này Ānanda, thế nào là sự tu tập không có hướng tâm?
13. Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau (pacchāpure), nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, ta được an lạc".
14. Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, ta được an lạc".
15. Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, ta được an lạc".
16. Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, ta được an lạc".
17. Như vậy, này Ānanda, là tu tập không có hướng tâm.
18. Như vậy, này Ānanda, Ta thuyết tu tập có hướng tâm; Ta thuyết tu tập không có hướng tâm. Những gì, này Ānanda, một bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với các đệ tử, vì lòng từ mẫn khởi lên, những việc ấy, Ta đã làm cho các ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây. Ðây là những nhà trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda. Chớ có phóng dật. Chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các ông.
19. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn-giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Saturday, August 9, 2014

Kinh Mỹ Nhân Quốc Ðộ (không phóng tâm hướng ngoại)

4.  Ba điều quan trọng cần lưu ý khi tu  tập Bốn Niệm Xứ


4.1 Không được phóng tâm hướng ngoại khi tu tập Bốn Niệm Xứ

(47. 2. 10) Kinh Mỹ Nhân Quốc Ðộ: Janapadakalyāṇīsuttaṃ (1198 - Kinh Tương Ưng)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbhā, tại một thị trấn của dân chúng Sumbhā tên là Sedaka.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
- Ví như một số đông quần chúng, này các Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ". Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy, với tất cả sự quyến rũ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rũ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát". Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: "Này ông, hãy xem đây. Ðây là cái bát đầy dầu, ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu ông bị rơi xuống". Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
4. - Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.
5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamāraddhā)". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập.

Friday, August 8, 2014

SN 47.3 – Kinh Tỷ-kheo (giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực)

Việc cần làm trước khi tu tập Bốn Niệm Xứ
1)    Hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp: sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. [SN 47.46 – Kinh Pātimokkha (KTƯ-05)]
2)   Hãy làm cho thanh tịnh những căn bản trong các thiện pháp: đoạn tận thân-khẩu-ý ác hành, tu tập thân-khẩu-ý thiện hành. [SN 47.47 – Kinh Ác Hành (KTƯ-05)]
3)     Gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp: được giới khéo thanh tịnh tri kiến chánh trực. [SN 47.3 – Kinh Tỷ-kheo (KTƯ-05)]



SN 47.3 – Kinh Tỷ-kheo: Bhikkhusuttaṃ [KTƯ-05]

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và như vậy có thể có những người nghi ngờ pháp ấy và họ thẩm tra con; sau khi con nói pháp cho họ, họ nghĩ rằng đi theo con sẽ có lợi ích cho họ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Chắc chắn con có thể hiểu lời Thế Tôn thuyết. Chắc chắn con có thể trở thành người thừa tự lời Thế Tôn dạy.
4. - Vậy này Tỷ-kheo, ông phải gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp.
Và thế nào là hai pháp cơ bản về các thiện pháp? Chính là giới khéo thanh tịnh, và tri kiến chánh trực. Này Tỷ-kheo, khi nào ông được giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực, này Tỷ-kheo, ông hãy y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập Bốn niệm xứ theo ba cách. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, ông hãy trú, quán thân trên nội thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán thân trên ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán thân trên nội ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Hay ông hãy trú, quán thọ trên các nội thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán thọ trên các ngoại thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán thọ trên các nội ngoại thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Hay ông hãy trú, quán tâm trên các nội tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán tâm trên các ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán tâm trên các nội ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Hay ông hãy trú, quán pháp trên các nội pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán pháp trên các ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; hay ông hãy trú, quán pháp trên các nội ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Tỷ-kheo, khi nào ông y cứ trên giới, an trú trên giới và tu tập Bốn niệm xứ theo ba cách như vậy; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm.
6. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
7. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
8. Và Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 47.47 – Kinh Ác Hành (đoạn tận thân-khẩu-ý ác hành, tu tập thân-khẩu-ý thiện hành)

Việc cần làm trước khi tu tập Bốn Niệm Xứ
1)     Hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp: sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. [SN 47.46 – Kinh Pātimokkha (KTƯ-05)]
2)    Hãy làm cho thanh tịnh những căn bản trong các thiện pháp: đoạn tận thân-khẩu-ý ác hành, tu tập thân-khẩu-ý thiện hành. [SN 47.47 – Kinh Ác Hành (KTƯ-05)]
3)    Gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp: được giới khéo thanh tịnh tri kiến chánh trực. [SN 47.3 – Kinh Tỷ-kheo (KTƯ-05)]


SN 47.47 – Kinh Ác Hành: Duccaritasuttaṃ [KTƯ-05]

1. Tại Sāvatthī.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Vậy, này Tỷ-kheo, ông hãy làm cho thanh tịnh những căn bản trong các thiện pháp. Và thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
4. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi đoạn tận thân ác hành, hãy tu tập thân thiện hành. Sau khi đoạn tận khẩu ác hành, hãy tu tập khẩu thiện hành. Sau khi đoạn tận ý ác hành, hãy tu tập ý thiện hành. Rồi này Tỷ-kheo, y cứ vào giới, an trú vào giới, ông hãy tu tập Bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, ông hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; ông hãy trú, sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; ông hãy trú, sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; ông hãy trú, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
6. Này Tỷ-kheo, sau khi y cứ trên giới, an trú trên giới, ông tu tập Bốn niệm xứ này như vậy; thời này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
7. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
8. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
9. Và Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 47.46 – Kinh Pātimokkha (căn bản trong các thiện pháp)

Việc cần làm trước khi tu tập Bốn Niệm Xứ
1)     Hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp: sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. [SN 47.46 – Kinh Pātimokkha (KTƯ-05)]
2)    Hãy làm cho thanh tịnh những căn bản trong các thiện pháp: đoạn tận thân-khẩu-ý ác hành, tu tập thân-khẩu-ý thiện hành. [SN 47.47 – Kinh Ác Hành (KTƯ-05)]
3)    Gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp: được giới khéo thanh tịnh tri kiến chánh trực. [SN 47.3 – Kinh Tỷ-kheo (KTƯ-05)]


SN 47.46 – Kinh Pātimokkha: Pātimokkhasuttaṃ [KTƯ-05]


1. Tại Sāvatthī.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Vậy này Tỷ-kheo, hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp. Thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn (Pātimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh (ācāragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau khi sống, hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới rồi, này Tỷ-kheo, y cứ trên giới, an trú trên giới, hãy tu tập Bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
6. Khi nào, này Tỷ-kheo, ông y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập Bốn niệm xứ; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
7. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
8. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
9. Và Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

Tuesday, August 5, 2014

SN 47.33 – Kinh Thối Thất (Để chơn chánh đoạn tận Khổ đau)

Mục đích của sự Tu tập Bốn Niệm Xứ
1)     Để có chánh trí như thật về Thân, Thọ, Tâm, Pháp – đối với Tỷ-kheo mới tu; để liễu tri về Thân, Thọ, Tâm, Pháp – đối với Tỷ-kheo hữu học; để ly hệ phược với Thân, Thọ, Tâm, Pháp – đối với Tỷ-kheo A-la-hán (SN 47.4 – Kinh Sālā: Sālāsuttaṃ [KTƯ-05]).
2)   Cứu cánh của sự tu tập Bốn Niệm Xứ: Sự chứng ngộ bất tử. (SN 47.37 – Kinh Ước Muốn: Chandasuttaṃ [KTƯ-05], SN 47.38 – Kinh Liễu Tri: Pariññātasuttaṃ [KTƯ-05]).
3)    Để liễu tri Ba Cảm Thọ (SN 47.49 – Kinh Các Cảm Thọ: Vedanāsuttaṃ [KTƯ-05]) và để đoạn tận Ba Lậu Hoặc (SN 47.50 – Kinh Các Lậu Hoặc: Āsavasuttaṃ [KTƯ-05]).
4)     Để chơn chánh đoạn tận Khổ đau: Với những ai, này các Tỷ-kheo, Bốn niệm xứ này được thực hành, đối với những người ấy, cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đa (SN 47.33 – Kinh Thối Thất: Viraddhasuttaṃ [KTƯ-05]).

SN 47.33 – Kinh Thối Thất: Viraddhasuttaṃ [KTƯ-05]

1. Nhân duyên ở Sāvatthī.
2. - Với những ai, này các Tỷ-kheo, Bốn niệm xứ bị thối thất, đối với những người ấy, cũng bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
3. Với những ai, này các Tỷ-kheo, Bốn niệm xứ này được thực hành, đối với những người ấy, cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; trú, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

5. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo, Bốn niệm xứ này bị thối thất, thời cũng thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt đau khổ. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo, Bốn niệm xứ này được thực hành, thời cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.